Thuật ngữ Hội họa

08/08/2007 lúc 3:19 Sáng | Posted in Hội họa | Để lại bình luận

BẢN GHI MÀU : bản vẽ nhanh cảnh hay toàn cảnh, ghi lại màu và hiệu quả ánh sáng của thiên nhiên cho xác thực bằng màu dầu trên khuôn khổ nhỏ, chuẩn bị cho việc sáng tác tranh trong xưởng hoạ.

BẢN CHÉP : tranh, tượng hay tác phẩm tạo hình được làm giống hệt nguyên tác, thường là cùng khuôn khổ, chất liệu. Nhờ vậy, dù trong điều kiện không tiếp xúc với nguyên bản, người ta vẫn tìm thấy ở đấy những giá trị thẩm mĩ tương đương. Với tác phẩm điêu khắc, có thể áp dụng phương pháp đổ khuôn từ bản gốc hay bản sao chép làm trước hoặc tái tạo bằng thủ công hay máy móc hiện đại.

BẢN DẬP : bản sao nguyên khổ hình một vật hoặc môtip chạm khắc hay đắp nổi, chủ yếu nhằm truyền đạt tác phẩm nổi như tấm bia, phù điêu, tiền kim loại, huy chương, vv. Cách làm: thoa khắp bề mặt vật mẫu một chất dính đủ để giữ giấy khỏi bong rồi áp giấy lên, phun ẩm và ấn nhẹ cho mặt giấy khuôn theo các chỗ lồi, lõm; khi các chi tiết hiện rõ thì phết mực hay màu lên; khi giấy gần khô mới bóc ra đem bồi cho thêm cứng.

BÀN VUỐT : (cg. bàn chuốt, bàn xoay gốm), bệ dùng để vuốt đất tạo hình đồ gốm loại tròn. Có loại bàn xoay tay (một tay điều khiển bàn xoay, tay kia tạo hình), bàn xoay chân (dùng chân xoay bánh xe dưới, mâm trên xoay theo) hoàn thiện hơn, dùng tiện hơn và nhanh hơn. BV kiểu Ai Cập cổ đại mà về sau Châu Âu dùng, là loại cao có 2 thớt tròn – thớt trên để vuốt, thớt dưới để quay bằng chân. BV Tiểu Á chân rất thấp, trục có thể chôn dưới đất, người vuốt ngồi xổm. BV có vai trò quan trọng trong việc tạo dáng đồ gốm vốn phức tạp thành đơn giản và đồng loạt. BV xuất hiện sớm nhất ở Tiểu Á từ 6 nghìn năm trước đây, ở Ai Cập từ 5 nghìn năm, Trung Quốc từ cuối kì văn hoá Ngưỡng Thiều gần 5 nghìn năm, ở Việt Nam từ văn hoá Phùng Nguyên 4.500 năm. Châu Mĩ Latinh mãi đến thế kỉ 5 mới du nhập BV, mặc dù nghề gốm ở đây đã phát triển từ trước. Ngày nay, BV được cải tiến thành nhiều kiểu phù hợp với từng loại gốm và đã dùng động cơ thay sức người.

BẢN HÌNH :

(Ph. carton; cg. cactông), 1. Bản vẽ mọi chi tiết của một bố cục hội hoạ sau khi phác thảo để chuẩn bị cho giai đoạn thể hiện tác phẩm, không dùng màu mà chỉ chú ý hình nét và các độ đậm nhạt. Thường được tiến hành trên giấy theo đúng khuôn khổ dự định cho tác phẩm để tiện sang hình và đối chiếu.

2. Hình vẽ trên bìa cứng dùng để làm mẫu thể hiện lên tranh tường, tranh thảm, tranh ghép kính hay ghép gốm

BẢN IN :

1. (tin học), các thông tin được in ra trên thiết bị in nối với máy tính. Vd. BI chương trình gốc do chương trình biên dịch đưa ra.

2. (xuất bản), một tấm mỏng bằng gỗ, chì, kẽm, nhôm… trên có chữ hoặc hình ảnh dùng làm khuôn in sách, báo, văn hoá phẩm.

3. (mĩ thuật), bản sao (phiên bản) từ một bức tranh gốc, thực hiện qua kĩ thuật in ấn thủ công hay cơ giới. Cũng có khi được in ra từ một bản khắc.

BẢN IN THỬ :

(A. galley – proof), 1. (mĩ thuật), bản in lần thứ nhất trên ván khắc, qua đấy tác giả kiểm định hiệu quả nghệ thuật và có thể sửa chữa trước khi in chính thức.

2. (xuất bản), tờ in đầu tiên đưa lại tác giả và người sửa bông để soát lỗi, đối chiếu với bản thảo gốc và maket trình bày. Có thể sửa chữa ngay trên tờ in đó theo quy ước của ngành in.

3. (nhiếp ảnh), bản phóng hình đầu tiên từ phim âm bản để kiểm tra độ sáng tối cùng màu sắc chất lượng của bức ảnh.

BỐI CẢNH: những hình ảnh phụ xung quanh đối tượng chính trong bức ảnh nhằm làm nổi bật chủ đề, tăng thêm nội dung sâu sắc của bức ảnh. BC làm rõ vị trí địa điểm, không gian, thời gian chụp đối tượng chính (con người, sự kiện, vật thể…) và mối quan hệ giữa đối tượng chính với hoàn cảnh cụ thể quanh nó. BC gồm nhiều loại: BC phù hợp, BC tương phản, BC đồng loại, BC khác loại, BC phản bội, vv. BC, vật chính, vật phụ là những yếu tố không thể thiếu trong một bức ảnh.

DẦU VẼ: chất lỏng nhờn, béo, khô được, không hoà tan trong nước, chế từ thực vật hay hoá chất như dầu lanh, dầu cù túc, dầu bóng. Có nhiều công dụng trong hội hoạ, như hoà với bột màu thành một chất màu mịn quánh để vẽ hoặc để phủ bóng lên tranh màu dầu.

CÔNG BÚT: một kĩ pháp của nghệ thuật tạo hình dùng trong việc diễn tả bằng những nét chính xác. Ở Châu Âu dùng bút sắt, Châu Á dùng bút nho để viết hay vẽ, đặt đầu ngọn bút thẳng góc với mặt vật được vẽ (lối này có tên gọi là “trung phong”), lướt nhẹ tay để tạo nên nét mảnh và đều. Trong một bức tranh có thể vẽ toàn bằng CB hay có thể vẽ vừa bằng CB vừa bằng phá bút (lối vẽ bút nghiêng, dằn mạnh, còn gọi là “trắc phong”). Hoạ sĩ Tề Bạch Thạch (Qi Baishi; Trung Quốc) giỏi phối hợp lối vẽ CB chăm chút với lối vẽ mảng phóng khoáng. Lối vẽ CB dùng cho hội hoạ, đồ hoạ và trang trí trên các tác phẩm mĩ nghệ và nghệ thuật gốm

ĐÁNH GIÁ THẨM MĨ : một trong những loại hình đánh giá của con người theo quan điểm thẩm mĩ đối với mọi hiện tượng khác nhau trong hiện thực; là nhân tố cốt lõi trong quan hệ thẩm mĩ của con người đối với hiện thực. Nhờ có ĐGTM, chủ thể thẩm mĩ (hay chủ thể của quan hệ thẩm mĩ) phát hiện ra và xác lập được các giá trị thẩm mĩ khác nhau ở các hiện tượng khách quan trong hiện thực. Đặc trưng của ĐGTM là phải được tiến hành trực tiếp thường là tức thì và xem xét nhiều mặt, toàn diện, toàn bộ khách thể thẩm mĩ, do vậy, ở chủ thể đánh giá không chỉ diễn ra hoạt động lí tính, mà cả rung động tình cảm. Nhờ sự phát triển của thực tiễn ĐGTM, đến nay mĩ học đã xác lập được một hệ thống các loại giá trị thẩm mĩ cơ bản của hiện thực: cái đẹp, cái cao cả (cái tuyệt vời), cái bi, cái hài. ĐGTM cùng một lúc vừa mang tính độc lập tương đối, không gì thay thế được, vừa gắn bó biện chứng với các loại hình đánh giá lợi ích khoa học, chính trị, đạo đức… của các hiện tượng xã hội. ĐGTM là cơ sở của đánh giá nghệ thuật, là một bộ phận của đánh giá nghệ thuật và đồng thời là dạng phát triển cao của nó.

ĐÁNH BÓNG :

1. Gia công làm bề mặt vật liệu bóng như gương. ĐB kim loại thường được thực hiện bằng máy đánh bóng hoặc bằng tay, nhờ đĩa phớt hay nỉ, đai truyền có chất lỏng bão hoà bột mịn (bột đánh bóng), ngoài ra còn sử dụng phương pháp ĐB điện phân. ĐB gỗ bằng giấy nháp (thô, mịn, khô, ướt) và quét keo trong suốt (dầu sơn bóng, vecni dầu hoặc vecni nitro). ĐB đá ốp lát (sau khi mài) bằng đĩa phớt ướt với bột mịn (như thiếc oxit, vv.). ĐB da, thực hiện trên máy ĐB bằng cách là nhẵn và dùng con lăn ĐB mặt phải của da.

2. Trong mĩ thuật, ĐB còn có nghĩa diễn tả đậm nhạt trên hình vẽ, đúng theo sáng tối trên vật mẫu, để tả khối, chiều dày và không gian.

ĐẢO HÌNH : kĩ thuật đặc biệt của các loại hình nghe – nhìn hiện đại (máy thu hình, viđêô) nhằm tạo hiệu quả thị giác mới mẻ, gây ấn tượng bất ngờ hoặc ngộ nghĩnh, lạ mắt. Dựa trên khả năng rộng lớn của kĩ thuật vi tính, nhiều hình ảnh được phân giải thành hàng triệu điểm nhỏ (đơn vị pixel) và ghi vào bộ nhớ điện tử. Để chuẩn bị ghi hình, hoạ sĩ (đạo diễn) lấy những hình ảnh đó ra, chọn lọc và dàn dựng lại theo một hệ thống trật tự tuỳ ý, không nhất thiết phải giữ nguyên dạng các hình ảnh gốc. Do đó, trên màn hình có thể xuất hiện những màu sắc biến ảo, những hình ảnh rung rinh nghiêng ngả, nở ra co lại, chạy loăng quăng, xoay ngược, lật trái, lộn đầu… Cũng có thể lắp ghép, chắp nối nhiều hình ảnh khác nhau theo tiết tấu riêng. Hiệu quả của ĐH phát huy mạnh nhất đối với hình ảnh động. Tuy nhiên kĩ thuật vi tính cũng cho phép xử lí hình ảnh tĩnh một cách linh hoạt, sáng tạo, chuyển thành hình động trong một mức độ nào đó.

CHẤT PLASTIC: (A. plastic), chất dẻo được sử dụng trong nghệ thuật tạo hình như một chất liệu nhào nặn, nắn uốn để có thể thay đổi hình dạng theo ý muốn. Trong nghệ thuật điêu khắc, CP gợi lên tính tổng hoà của các hình khối lồi lõm và mối quan hệ của chúng trong một tác phẩm làm cho sự cảm thụ thị giác nhất quán tự nhiên, không khiên cưỡng gượng ép. Trong hội hoạ, đồ hoạ, nhiếp ảnh, CP gợi được những ấn tượng nhất định về mảnh khối với độ dày mỏng, nặng nhẹ khác nhau và ít nhiều có mối liên kết uyển chuyển với nhau.

CHẤT MÀU: chất liệu có màu sắc được dùng trong việc vẽ tranh, tô tượng. Trong hội hoạ, màu sắc tuỳ thuộc vào CM do con người khám phá ra cùng với sự tiến bộ của khoa học và kĩ thuật. Trước đây, các CM có nguồn gốc động vật (than xương), hay thực vật (chàm, dành dành, nhựa cây sơn…) nhưng thường là khoáng chất (chu sa, vàng, bạc, vv.). Hiện nay, nhiều CM là sản phẩm tổng hợp từ hoá chất, bảng màu rất phong phú. Các CM được tán nhỏ thành bột càng mịn càng tốt, khi dùng thì nghiền với một chất trung gian khác để kết dính với nhau và bám chắc lên mặt phẳng dùng làm nền đỡ. Chất trung gian có thể là lòng đỏ trứng, keo thực vật hay động vật, dầu đay, xi, vv. Với mỗi chất trung gian khác nhau, có loại hoạ phẩm khác nhau: tempêra, goat, sơn dầu, sơn sáp

CHẤT CẢM : cách diễn tả trong nghệ thuật tạo hình theo kĩ thuật đặc biệt nhằm tạo cho người xem những cảm nhận khác nhau về chất của đối tượng được miêu tả. Bức tranh hay pho tượng tuy được thể hiện bằng cùng một chất liệu (sơn dầu, than, gỗ, đá hoặc đồng…) nhưng không đơn điệu do CC ở mỗi bộ phận của hình thể thay đổi khác nhau. Cùng với đường nét, màu sắc, CC cũng là một trong những yếu tố ngôn ngữ của nghệ thuật tạo hình.

CHUYỂN SẮC :

1. Chuyển một phần mảng màu sang sắc khác mà vẫn giữ màu gốc làm màu chủ đạo. Thường chuyển sang các màu gần với màu gốc.

2. Chuyển một sắc trung tính (đen – ghi – trắng) ngả sang một sắc nóng hay lạnh để giảm bớt tính trung lập của sắc gốc.

3. Chuyển sang độ đậm nhạt khác cho một màu gốc (gọi chính xác là chuyển sắc độ).

4. Chuyển sang gam màu khác cho một bố cục đã có

From BKTT VN – Quoted by Luv2Draw.wordpress.com

Để lại phản hồi »

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.
Entriesphản hồi feeds.

%d bloggers like this: